M¶
mạn tính¶
Từ thường dùng như sai: mãn tính, bệnh mãn tính.
mảy¶
Mảy bao gồm các nghĩa sau:
-
Một chút.
Theo Từ điển Việt-Bồ-La (1651):
Mảy, một mảy: một ít, một chút.
"Chẳng có một mảy": chẳng có một chút gì, một cái cũng chẳng có.Ví dụ:
Theo truyện thơ Lâm tuyền kỳ ngộ:
Mảy chút trần ai chi khấng lụy
Thanh nhàn còn đợi thú lâm tuyền. -
Tư thế ngồi. Ngồi tréo mảy là ngồi gác đùi nọ qua đùi kia, còn gọi ngồi vắt mảy.
mảy may¶
Mảy may cùng nghĩa với mảy, chỉ sự vật nhỏ xíu, rất nhỏ.
Ví dụ:
Nguyên tác bài thơ Hữu không của thiền sư Đạo Hạnh (?-1117):
"Tác hữu sa trần hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không."
Tương truyền nhà sư Huyền Quang (1254-1334) đã dịch như sau:
"Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Vừng trăng vằng vặt in sông
Chắc chi có có, không không mơ màng."
Thơ văn Lý Trần (1977) của Viện Văn học dịch nghĩa như sau:
"Bảo là "có" thì từ hạt cát, mảy bụi đều có
Cho là "không" thì hết thảy đều không
"Có" với "không" như ánh trăng dưới nước
Đừng có bám vào cái "có", và cũng đừng cho cái "không" là không."
mão¶
Mua bán không cân đong đo đếm cụ thể, mà chỉ ước lượng bằng mắt. Vì thế, người mua phải tinh mắt, nhiều kinh nghiệm, phải ước đoán cho chính xác, nếu không lỗ vốn.
Thí dụ:
Tôi bán mão đó, mua không?
Từ tương đương với mão: mua soát, mua hộp, mua đồng, mua xa cạ, mua ngang ngửa.
mẩy¶
- Mình (một bộ phận trong cơ thể con người).
Mình mẩy là từ đôi mà cả hai từ cùng có nghĩa là "mình".
Ví dụ:
a. Đau mình đau mẩy.
b. Đầu chấy mẩy rận.
c. Theo thi sĩ Bùi Giáng:
"Tấm quần em rách đường tơ
Cỏ trong mình mẩy bâng quơ mọc nhiều
Bây giờ em đứng nơi đâu
Cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao?"
- To đầy, to chắc, nở nang.
Ví dụ:
Năm nay mưa thuận gió hòa, hạt thóc mẩy quá.
Trái ngược với mẩy là lép hoặc óp.
Ví dụ:
a. Hạt mẩy, hạt lép.
b. Cua mẩy (cua béo mập, chắc thịt), cua óp.
dậy mẩy¶
Theo Đại Nam quấc âm tự vị (1895):
Dậy mẩy nghĩa là nở da, nở thịt, dậy vú, nói về con gái 16, 17 tuổi mới lớn lên.
Từ này có thể dùng cho cả con trai. Hiện nay, còn có cách nói khác: nhổ giò, bể tiếng, dậy thì.
Ví dụ:
Trong di cảo "Dở Mắm" (2015), học giả Vương Hồng Sển kể về thời học trường Chasseloup-Laubat (nay là trường Lê Quý Đôn) những năm 1919 - 1923:
"Chúng tôi, học xóm bản xứ (quartier indigène), có một cắc, đưa cho anh Hai Huế cu-li, đến tối anh đem lên lầu sẵn cho mình một bầu (broc) nước trà nóng và một giề cơm cháy to bằng chiếc nón bài thơ, trường nấu cơm bằng chảo đun, cơm khê cơm khét dán sát đáy chảo ấy, dư nhiều bán cho heo ăn. Cơm cháy ấy, đối với chúng tôi, tuổi 17, 18 đang thời dậy mẩy ấy, nó ngon kỳ ngon cục."
mon men¶
Mon trong mon men là một hình vị gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ 捫, mà âm Hán Việt hiện hành là môn, có nghĩa là "sờ mó; mò mẫm".
Mon ↔ môn còn có một điệp thức nữa là mơn trong mơn man, mơn trớn.
Mon men không phải là từ láy.
mê man¶
Tiếng Hán có từ tổ mê man 迷漫, có nghĩa là "[cát bụi, sương tuyết] lan tràn, bao phủ".
Trong tiếng Việt, do hiện tượng mà chúng tôi ("chúng tôi" ở đây là học giả An Chi) thường gọi là sự cố ngôn ngữ (accident linguistique) nên chữ man 漫 là "đầy, nhiều" đã bị thay thế bằng chữ man 悗, có nghĩa là "mê hoặc, lầm lẫn" nên mê man mới có nghĩa là "mê kéo dài", như đã giảng trong Từ điển Tiếng Việt 2008.
Mê man không phải là từ láy.
mộng mẹo¶
Mẹo là âm xưa của chữ 卯, mà âm Hán Việt hiện hành là mão. Hán điển giảng là "mộc khí thượng an tuẩn đầu đích khổng nhãn" 木器上安榫頭的 孔眼, nghĩa là "lỗ để đút mộng vào trong đồ gỗ", và dịch sang tiếng Anh là "mortise".
Vậy mộng là... "mộng", còn mẹo là cái "lỗ mộng".
Cho đến giữa thế kỷ XVII, từ mẹo vẫn còn "sống" nên đã được Alexandre de Rhodes ghi nhận thành một mục trong Từ điển Việt Bồ La (1651) mà nhóm Thanh Lãng đã dịch là "nhét vào, tra vào, mộng mẹo".
Chữ 卯 này thường dùng để ghi tên của chi thứ tư trong thập nhi chi, mà tiếng Việt miền Bắc, rồi tiếng Việt toàn dân hiện nay, đọc là mão nhưng trong Nam trước đây chỉ đọc là mẹo. Ngay cả hiện nay, rất nhiều người "bình dân" trong Nam cũng thường nói tuổi Mẹo chứ không nói "tuổi Mão".
Mộng mẹo không phải là từ láy.
mùa màng¶
Màng trong mùa màng là âm xưa của chữ mang 忙, có nghĩa là "bận rộn" trong mang nguyệt 忙月, có nghĩa là "tháng bận rộn của nhà nông" ("busy months" trong tiếng Anh).
Mùa màng không phải là từ láy.
mụn¶
-
Theo Đại Nam quấc âm tự vị (1895) của Huình Tịnh Paulus Của:
Mụn là thứ mụt nhỏ nhỏ hay mọc trên mặt người ta.Mọc mụn: mọc thứ mụt nhỏ ấy.
Mụn cám: thứ mục tăn măn.
Mụn bọc: thứ mụn lớn, có còi to.
-
Theo Từ điển Việt - Bồ - La (1651), mụn có nghĩa là một chút.
Ví dụ:
Mụn lửa: một chút lửa, tàn lửa. -
Theo Việt Nam tự điển (1931), mụn có nghĩa là mảnh, mẩu.
Ví dụ:
Mụn vải. -
Tiếng dùng để chỉ số ít về con cái.
Ví dụ:
Hiếm hoi có vài mụn con.
mỹ miều¶
Miều trong mỹ miều là âm rất xưa của chữ diệu 妙 trong mỹ diệu 美妙.
Mỹ diệu được dịch sang tiếng Anh là "beautiful; marvellous; nice; splendid; wonderful". Còn diệu 妙 là "clever; excellent; fine; subtle; wonderful". Đây là một chữ thuộc vận mục tiếu 笑, thanh mẫu minh 明 nên đúng theo phiên thiết thì nó phải đọc là miệu. Còn miều là một âm xưa hơn nữa, có thể ngược lên tới đời Hán.
Mỹ miều không phải là từ láy.