Skip to content

Đ

đá

Đá là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ 石, mà âm Hán Việt hiện hành là thạch, xưa từng đọc là đố (> đá).


đày đọa

Đọa trong đày đọa là một yếu tố Hán Việt mà chữ Hán là 墮, có nghĩa là "rơi xuống, thoái hóa; làm cho xuống cấp, làm cho mất phẩm chất."

Đày đọa không phải là từ láy.


đầm đìa

Đầm đìa không phải là từ láy. Cả đầm lẫn đìa đều là những danh từ độc lập.

Đầm là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ 潭, mà âm Hán Việt hiện hành là đàm, có nghĩa là... "đầm".

Đìa là âm Hán việt xưa của chữ 池 mà âm Hán Việt hiện hành là trì, có nghĩa là "ao".


đất

Đất là điệp thức của địa 地 (↔ đị).

đất đai

Đất đai là điệp thức của địa đái 地带.


điêu đứng

Điêu đứng là điệp thức của điếu đướng 伄儅, có nghĩa là bất thường, thất thường.

Theo Hán Việt tân từ điển (1975) của Nguyễn Quốc Hùng:
Điếu đương (đương không có dấu sắc) nghĩa là "Bất thường. Danh từ nhà buôn, chỉ sự khan hiếm hàng hóa trên thị trường".

Điêu đứng không phải là từ láy.


điếu đóm

Điếu là ống hút, cần điếu, ống điếu dùng để hút thuốc lào.

Đóm là mảnh tre nứa khô, được chẻ mỏng, dùng để châm lửa khi hút.

Điếu đóm thường dùng trong khẩu ngữ, mượn hình ảnh mang điếuchâm đóm, để ám chỉ chuyện làm những việc lặt vặt, không quan trọng, nhằm phục vụ người khác, với hàm ý mỉa mai.


đòi

  1. Gọi đến, vời đến, buộc mình phải đến.

    Ví dụ:
    Trên non tốc một tiếng còi
    Thương con nhớ vợ, quan đòi phải đi
    Không đi thì sợ quan đòi
    Ra đi thì nhớ cá mòi nấu măng.

  2. Tùy theo, theo hoàn cảnh, theo số phận.

    Ví dụ:

    a. Nguyễn Trãi:
    "Sóng khơi ngại vượt bể triều quan
    Lui tới đòi thời miễn phận an."

    b. Hồng Đức quốc âm thi tập:
    "Xuất xứ đòi thời đều phải đạo
    Trong đời há có mấy lầm ai."

  3. Nhiều, nhiều lắm.

    Ví dụ:

    a. Nguyễn Trãi:
    "Nhật nguyệt soi đòi bóng hiện
    Đông hè trải đã xưa nay."

    b. Truyện Kiều của Nguyễn Du:
    "Một hai nghiêng nước, nghiêng thành
    Sắc đành đòi một, tài đành họa hai."

    Câu thơ này giải thích về nhan sắc của Thúy Kiều: nhiều lắm chỉ có một; về tài thì họa may có người thứ hai sánh bằng, chứ về nhan sắc chỉ có một.

    c. Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu:
    "Nói rồi lụy nhỏ đòi cơn
    Cùng nhau một sự oán hờn nên gây."


đôi công

Đôi công nghĩa là "đối đầu trực diện", hiện nay thường dùng trong bình luận thể thao, nhất là bóng đá. Thuật ngữ tương ứng trong tiếng Anh là "go head to head" hoặc "go toe to toe".

Chữ đúng phải là đối công 對攻 (chữ đối có dấu sắc). Chữ này đã bị phát âm trệu trạo thành "đôi công" khi đi vào tiếng ta.

Sòng phẳng là một cấu trúc đẳng lập chủ yếu dùng để nói về cách xử sự đàng hoàng trong quan hệ giao dịch, hàm ý là không có gian lận, mà Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên giảng là "nói trả nợ đầy đủ và đúng hẹn".

Đối côngsòng phẳng không đồng nghĩa. Do đó, câu bình luận bóng đá "Đội A (đội yếu hơn) có thể thi đấu sòng phẳng với đội B (đội mạnh hơn)" là lệch lạc về nghĩa.

Thay vào đó, để diễn đạt ý "đối đầu ngang ngửa" hoặc "đối đầu trực diện", ta phải dùng từ đối công (> đôi công): "Đội A có thể đôi công với đội B".


đồng

Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh:
Đồng là từ gốc Hán, chỉ người con trai dưới 15 tuổi với tư chất trong trắng, ngây thơ, để thần linh có thể nhập vào. Dần dần về sau người ta dùng để chỉ cô gái thay thế các thiếu niên.

Thí dụ:
Thánh ốp đồng.