Cấu trúc đề - thuyết¶
Khái quát¶
Cấu trúc câu trong tiếng Việt gồm hai thành phần: 1
- Phần thứ nhất: nêu lên một đề tài, gọi là đề. Đề có thể bất cứ là vai gì, có bất cứ quan hệ gì với thuyết, miễn sao thành một nhận định có ý nghĩa, có một nội dung thông báo nào đấy.
- Phần thứ hai: nói một điều gì đó có liên quan đến cái đề ấy, gọi là thuyết.
Cấu trúc này được gọi là cấu trúc đề-thuyết.
Ví dụ:
Phần gạch dưới trong những câu sau là đề:
a. Thứ nhạc này tôi không thích.
b. Trong vườn trồng toàn cam.
c. Ngày xưa có anh Trương Chi, v.v...
d. Tôi tên là Nam.
Trong câu văn xuôi dùng để giao tiếp với nhau hằng ngày, phần đề trong câu nhiều khi không cần thiết và do đó thường vắng mặt nếu người nghe đã biết rõ người nói đang nói về ai, về cái gì hay về đề tài nào, trong khuôn khổ nào (nhờ tình huống lúc phát ngôn hay nhờ ngôn cảnh).
Đề là yếu tố quyết định số phức hay số đơn của động từ.
Câu đơn¶
Câu đơn gồm có một đề và một thuyết.
Ví dụ:
a. Tham thì thâm.
b. Có kiêng (thì) có lành.
c. Tay làm (thì) hàm nhai.
d. Tre già (thì) măng mọc.
Câu ghép¶
Câu ghép gồm hai câu đơn sóng đôi cân xứng với nhau (đối nhau), mỗi câu đơn có một đề và một thuyết.
Ví dụ:
a. Bên (thì) lở, bên (thì) bồi.
b. Bồi ở, lở đi.
c. Nát dẻo, sống bùi.
d. Nhiều no, ít đủ.
e. Cần tái, cải nhừ.
f. Mềm nắn, rắn buông.
g. Trên thuận dưới hoà.
Câu g. có thể xem là câu đơn hoặc câu ghép: - Nghĩa của câu đơn: Trên mà thuận thì dưới sẽ hoà. - Nghĩa của câu ghép: Trên thì thuận, mà dưới thì hoà.
Công cụ đánh dấu¶
Chữ thì là một từ công cụ chỉ dùng để đánh dấu biên giới giữa đề và thuyết của câu.
Chữ thì có thể được thay bằng là, mà trong một số trường hợp nhất định.
Trong mỗi câu chỉ có thể có một chữ thì, trừ phi trong câu có hai kết cấu đề-thuyết tương phản như:
- Trên thì bừa cạn, dưới thì bừa sâu.
- Có mấy cái cuốc mà cái thì cùn, cái thì mẻ.
Chữ thì chỉ dùng một cách bắt buộc khi nào biên giới đề-thuyết không được rõ.
-
Cao Xuân Hạo. (2021). Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt (Tái bản lần 2). Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, tr. 20. ↩