Tìm & kiếm¶
Tìm¶
Tìm là cố phát hiện ra nơi tồn tại của một vật mà mình không trông thấy, như:
- tìm một chỗ vắng
- tìm một từ trong từ điển
- tìm một thành phố trên bản đồ
- tìm một cái ví bị mất
- tìm một cuốn sách trong thư viện
- tìm nguyên nhân của một sự việc
không kể mình có hay không quyền sở hữu về vật đó, cũng không kể đến ý định của mình có muốn chiếm hữu vật đó hay không.
Kiếm¶
Kiếm là làm sao cho mình có được một thứ gì mà mình có quyền hay có khả năng sử dụng hoặc tiêu thụ, bất chấp thứ đó có thuộc quyền sở hữu của ai hay không, một đối tượng vốn có sẵn xung quanh nhưng chưa phải đã nằm trong tay mình.
Phân biệt¶
Tìm và kiếm là hai vị từ có nghĩa gần nhau đến nỗi thường dùng với nhau thành một cặp đẳng lập mang hai trọng âm theo kiểu đi đứng, lạnh nhạt hay nhảy nhót, làm lụng. 1
Trong nhiều phương ngữ miền Nam, đặc biệt ở Nam Bộ, kiếm thông dụng hơn tìm, vì trong rất nhiều ngôn cảnh nó được dùng vào những chỗ mà người miền Bắc chỉ dùng tìm.
Ở miền Bắc, tìm và kiếm không khác nhau bao nhiêu về nội dung, mà khác nhau rõ nhất là về tính chất ngữ pháp của những bổ ngữ (O) mà nó chấp nhận.
Ở miền Bắc, kiếm không chấp nhận bổ ngữ xác định. Những câu hỏi dùng những đại từ nghi vấn như ai, người nào, cái gì, cái nào, con nào, bài nào, xã nào, cuốn gì, số mấy, v.v... đều đòi hỏi – và do đó, tương ứng một đối một với – những câu đáp dùng danh ngữ xác định, cho nên lẽ ra phải dùng tìm chứ không phải kiếm, một vị từ đòi hỏi một bổ ngữ không xác định. Ví dụ:
- Tìm chồng: tìm người chồng của mình đi đâu chưa thấy về.
- Kiếm chồng: tìm một người nào đó khả dĩ làm chồng của mình (tiền giả định: người tìm chưa có chồng).
Một số ngữ đoạn và thành ngữ thông dụng¶
tìm chỗ, tìm kim, tìm cách, tìm kế, tìm giải pháp đúng, tìm vàng, tìm bạn, tìm đường, tìm hiểu.
kiếm củi, kiếm cớ, kiếm chuyện, kiếm tiền, kiếm cơm, kiếm ăn, kiếm (lấy mụn) con, kiếm diễn viên.
kiếm ăn¶
Khi dùng cho người, ngữ đoạn này có nghĩa là "tìm cách để sinh nhai", còn khi dùng cho động vật, nó có nghĩa là "đi kiếm thức ăn".
Ăn ở đây không phải là một bổ ngữ trực tiếp chỉ đối tượng của kiếm, mà cùng với kiếm làm thành một chuỗi vị từ.
tìm bạn, tìm vàng¶
Tìm bạn ở đây được hiểu theo nghĩa của mục "Tìm bạn" trên các báo, nghĩa là tìm những người nào khả dĩ trở thành bạn mình.
Tìm bạn và tìm vàng đều có một danh ngữ không xác định làm bổ ngữ chỉ đối tượng cho tìm mà nghe vẫn không lạ tai. Điều này có thể giải thích bằng tính thành ngữ của các ngữ đoạn hữu quan (trong đó có cả tính loại biệt của các tiêu đề in chữ lớn trên các báo), và có lẽ cũng có thể viện đến tính quý hiếm của vàng khiến cho nó không thể thành một bổ ngữ nội tại của tìm hay kiếm được – so sánh kiếm vàng, kiếm kim cương, kiếm bạch kim, kiếm uranium với kiếm củi, kiếm tiền, kiếm cơm, kiếm gạo. Đây là những công việc được coi là thường nhật, cho nên dùng kiếm nghe rất bình thường, ai cũng hình dung được sự thể ngay tức khắc. Trong khi đó phải dụng công mới hình dung được những tình huống (mà) trong đó có thể nói tìm tiền, tìm gạo, tìm cơm.
-
Cao Xuân Hạo. (2021). Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt (Tái bản lần 2). Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, tr. 152. ↩