Skip to content

Nếu, dù, tuy, mặc dầu

Nếu và dù

Nếu dùng để đánh dấu tính điều kiện của một sự thể giả định. Sự thể giả định này đưa ra trong phát ngôn là để thông báo một điều gì khác (phần thuyết của câu, thường đi sau chữ thì) sẽ trở thành hiện thực khi nào cái sự thể giả định ấy trở thành hiện thực. 1

So với nếu, có thêm cái ý "ngay cả".

Ví dụ:

a. Nếu trời mưa có nghĩa là "trong trường hợp mà trời có thể mưa".
b. Dù trời mưa hay Dù cho trời có mưa có nghĩa là "ngay cả trong trường hợp mà trời có mưa". Người nói tiền giả định rằng "trời mưa" là một hoàn cảnh thường cản trở việc thực hiện điều sẽ được nói ở phần thuyết.

Sự khác nhau giữa nếu không phải ở tính chất hay chiều rộng của khung đề, mà là ở chỗ có hay không có một cái tiền giả định có liên quan đến tác dụng của sự thể (giả định) được trình bày trong khung đề đối với sự thể được trình bày trong phần thuyết.


Dù và tuy, mặc dầu

1. Tuy/Mặc dầu (mặc dù) dùng để trần thuật những sự việc có diễn ra thực (nhất là những sự việc mà người nói có chứng kiến), làm thành một trở ngại có thể ngăn cản một sự thể khác nhưng không ngăn cản được.

(dù cho, cho dù, dầu cho, dẫu, dẫu cho, ví dầu, v.v...) dùng để nói về những sự thể không có thật hay chưa có thật mà chỉ giả định, những dự kiến, những phỏng đoán, những suy diễn, vốn chỉ có trong trí óc con người chứ không hề có (hay ít nhất là chưa hề có) trong thế giới hiện thực, dù những dự đoán ấy có chắc chắn đến đâu chăng nữa.

Ví dụ:

a. Tuy/Mặc dầu hôm qua trời mưa to, tôi vẫn đến.
b. Ngày mai có mưa to gió lớn thế nào tôi cũng sẽ đến.

Sự phân biệt [±HIỆN THỰC] hay hiện thực/giả định giữa tuy/mặc dầu thể hiện ở chỗ tuy/mặc dầu không dùng cho những sự thể được giả định hay dự kiến cho tương lai, còn không thể dùng khi nói một sự việc diễn ra thật.

2. Tuy/mặc dầu cũng không thể dùng trong những câu chứa đựng:

  • một phần đề được đánh dấu là [+bất định/nghi vấn]
  • hoặc một phần thuyết chứa đựng một tham tố [+bất định/nghi vấn].

Ví dụ:

a. Tuy/Mặc dầu có ai nói như vậy anh cũng đừng tin.
b. Tuy/Mặc dầu cần gì, anh cứu hỏi tôi
c. Tuy/Mặc dầu sao, nó cũng là em tôi.
d. Tuy/Mặc dầu có đi đâu nó cũng nhớ về Hà Nội.

Trong các câu này, tuy/mặc dầu phải được thay bằng .

3. Một khung đề mở đầu bằng bao giờ cũng có thể được đánh dấu biên giới bằng thì, trong khi những câu (mà) trạng ngữ mở đầu bằng tuy/mặc dầu, vốn không phải là khung đề, không bao giờ được đánh dấu như vậy.

4. là tác tử điều kiện, còn tuy/mặc dầu là tác tử "nhân nhượng".

Ví dụ:

Trong tất cả các câu sau, mệnh đề bắt đầu bằng không thể xem là có tính chất giả định (điều kiện). Cần phải thay bằng tuy/mặc dầu.

a. nói tiếng Anh rất khá, anh tả chí có bằng A.
b. chưa quen anh, tôi đã đọc truyện ngắn của anh từ lâu.
c. anh đã khuyên tôi nhiều lần, nhưng tôi vẫn chưa thông.
d. nó rất giỏi môn Lý, thì giám khảo cũng đánh trượt nó.
e. Dân bản xứ vẫn còn lo sợ tình hình đã lắng dịu hẳn.

Trong câu b. và c., việc dùng tỏ ra đặc biệt phi lý. Người nói (tôi) và người nghe (anh) tất nhiên phải biết chắc chắn rằng mệnh đề đi sau là đúng sự thật, chứ tuyệt nhiên không có tính giả định.

Trong câu a. và d., không thể dung hoà với rất, vốn không thể dùng trong những câu phi hiện thực như "Tôi muốn tìm mua một cái xe rất tốt (chỉ có thể nói: một cái xe thật tốt).


  1. Cao Xuân Hạo. (2021). Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt (Tái bản lần 2). Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, tr. 181.